Giới thiệu

Tiền thân của Công ty Xe lửa Gia Lâm (XLGL) là Nhà máy Xe lửa Gia Lâm (còn gọi là Nhà máy hỏa xa Gia Lâm) được thành lập năm 1905 dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp.
I-Bối cảnh ra đời của Nhà máy Xe lửa Gia Lâm
          Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp thực hiện mưu đồ vơ vét tài nguyên của cải của nhân dân ta đem về "mẫu quốc". Nhằm mục đích phục vụ khai thác, vơ vét tài nguyên và đàn áp phong trào cách mạng, chính quyền thực dân sử dụng nhân công rẻ mạt và tù khổ sai xây dựng hệ thống đường sắt mà hồi ấy người ta quen gọi là "đường xe lửa", "đường hỏa xa" hay "hỏa xa".
          Tháng 11 năm 1880 đoạn đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho dài 71km được khởi công xây dựng và đưa vào sử dụng này 30/10/1882.
Ở Bắc Kỳ, đoạn đường sắt đầu tiên nối Lạng Sơn với Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) khổ rộng 0,6m dài 98 km hoàn thành vào tháng 12/1894. Sau đó khổ rộng được nâng lên 1m, kéo dài về phía Nam tới Gia Lâm, về phía Bắc tới Đồng Đăng tổng chiều dài toàn tuyến là 163km được đưa vào khai thác ngày 8/4/1902. Tuyến Hà Nội - Hải Phòng dài 102km khởi công xây dựng từ năm 1901, đưa vào khai thác ngày 16/6/1902.
          Tuyến Hà Nội - Lào Cai dài 296km được khởi công xây dựng từ năm 1901, hoàn thành đến Việt Trì (67km) ngày 10/3/1903, đến Yên Bái (150km) ngày  01/7/1904. Cầu Long Biên được bắc xong năm 1902. Đoàn đường sắt Hà Nội đi Vinh, Bến Thủy (326km) hoàn thành ngày 17/3/1905.
Như vậy đến năm 1905 Gia Lâm là giao điểm của 4 tuyến đường sắt phía Bắc do Công ty Hỏa xa Vân Nam cai quản, khai thác.
Năm 1905, cũng chính là năm Nhà máy Xe  lửa Gia Lâm được thành lập để sửa chữa đầu máy hơi nước và các loại toa xe.
Nhà máy chiếm diện tích 50ha ruộng đất của nông dân. Diện tích nhà xưởng khoảng gần 4.500m2 có 14 vị trí lắp ráp đầu máy.
Thời kỳ mới thành lập, Nhà máy có 300 công nhân, hầu hết công việc đều làm thủ công vì máy móc, thiết bị không đáng kể.
 
II-Phong trào đấu tranh cách mạng của Công nhân Nhà máy Xe lửa Gia Lâm
-Thời kỳ 1905-1936
Công nhân Nhà máy XLGL hồi ấy mỗi ngày phải làm 10-12 giờ dưới trời nắng chói chang lại chịu roi vọt của bọn chủ và tay sai của chúng. Phải lao động thủ công với cường độ cao trong hoàn cảnh sống đói khổ, rách rưới, thân hình gầy gò, tây chân khẳng khiu, nhưng anh chị em chỉ được trả lương công nhật từ 4-5 hào một công là "mức lương chết đói". Đã vậy, anh chị em lại bị bọn cai ký bòn rút bằng các hình thức cúp phạt, lễ tết….
Trong Nhà máy có hai loại thợ: thợ người Việt và thợ người Hoa. Nhằm chia rẽ đội ngủ công nhân, bọn chủ thực hiện chính sách phân biệt đối xử: lương thợ người Hoa được trả cao gấp 4-5 lần lương thợ người Việt.
Chế độ bóc lột, đánh đập và cư xử bất công của bọn chủ đã làm cho anh chị em công nhân thấy rõ nhân phẩm và quyền lợi của mình bị xúc phạm. Nỗi uất ức, căm hờn dằn nén mãi đã dẫn tới những phản ứng quyết liệt. Tiêu biểu cho những hành động quyết liệt đó là việc một công nhân Nhà máy tên là Nguyễn Văn Túy, 34 tuổi, người tỉnh Kiến An đã nổ bom tại khách sạn Hà Nội vào lúc 19h30 phút ngày 26/4/1913, giết hai thiếu tá Pháp và làm bị thương 6 tên lính Pháp khác. Ngày 5/9/1913 Hội đồng đề hình của chính quyền thực dân đã tuyên án tử hình vắng mặt Nguyễn Văn Túy (theo hồ sơ LLVT1- Hà Nội, số 29842).
Từ năm 1914 đến 1918 xảy ra cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất, bọn chủ lợi dụng tình hình này bắt công nhân làm nhiều việc và căng thẳng hơn với chế độ khắc nghiệt hơn, tiền lương giảm xuống, nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng.
Để phục vụ chiến tranh, bọn chủ bổ sung máy móc, tuyển thêm thợ. Một số người được đào tạo từ các trường kỹ nghệ đều là con em viên chức cấp cao, phú nông, địa chủ, tư sản… đa số về Nhà máy được làm cai, ký hoặc được giao những công việc quan trọng, trong đó cũng có một số người tốt. Do biết đọc và viết tiếng Pháp, họ thường tìm đem về Nhà máy các loại sách báo, trong đó có báo "Nhân đạo", báo "Người cùng khổ" và một số sách báo cấm từ Pháp gửi về. Qua sách báo nói về chủ nghĩa cộng sản, một số người tốt hiểu ra nên họ căm ghét bọn chủ và bênh vực những anh chị em thợ bị đánh đập, cúp phạt.
"Từ cuối năm 1928 trở đi, Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đã có cơ sở trong nhiều Xí nghiệp, Nhà máy: Xe lửa Gia Lâm, xưởng sửa chữa ô tô Avia, Nhà máy Diêm, Nhà máy điện Bờ Hồ, Ga Hàng Cỏ…"(trích Lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội - trang 38).
Thời kỳ 1930-1936, thực dân Pháp ở Đông Dương ra sức bóc lột vơ vét để bù đắp thiếu hụt về kinh tế do nạn khủng hoảng trong giới tư bản Pháp ở chính quốc. Tại Nhà máy XLGL bọn chủ giảm mức lương, tăng giờ làm, tăng cường đàn áp, giãn thợ, gây ra nạn thất nghiệp.
Ngày 01/5/1934 hàng trăm công nhân Nhà máy XLGL đã tham gia cuộc biểu tình quanh hồ Gương - Hà Nội
Ngày 01/5/1935 mặc dù chính quyền thực dân cấm biểu tình và lùng sục ráo riết nhưng công nhân Nhà máy đã viết, dán lên tường hàng trăm khẩu hiệu đả đảo bọn thực dân Pháp, đả đảo bọn hương lý.
Năm 1936, mặt trận Bình Dân nắm chính quyền ở Pháp. Điều kiện hoạt động cách mạng ở nước ta có thuận lợi hơn. Một số anh em tích cực của Nhà máy cứ chiều thứ 7 hàng tuần sang Hà Nội đọc sách báo đã gặp được đồng chí Lương Khánh Thiện (lúc đó là Ủy viên Thường vụ xứ ủy Bắc kỳ kiêm Bí thư Thành ủy Hà Nội) để tiếp thu tình hình cách mạng trong nước và trên thế giới.
"…Nhờ những hoạt động tích cực trên, cơ sở Đảng dần dần được xây dựng và phát triển mạnh. Ở nội thành Nhà máy XLGL, Nhà máy Khuy, Xí nghiệp Avia, Nhà máy Điện Yên Phụ, Nhà máy Diêm …"(trích lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội - trang 70)
-Thời kỳ 1937-1945:
Ngày 17/01/1937, công nhân Nhà máy thảo bản yêu sách đòi tăng lương 20%, giảm giờ làm từ 10 giờ xuống 9 giờ. Đúng 15 giờ, toàn bộ Nhà máy ngừng việc, tất cả công nhân kéo lên đưa yêu sách cho bọn chủ. Trước áp lực của công nhân, bọn chủ phải chịu tăng lương thêm 2-4 xu mỗi ngày công và giảm giờ làm xuống 9 giờ mỗi ngày. Đó là cuộc đấu tranh thắng lợi đầu tiên, tạo được niềm phấn khởi, tin tưởng trong lòng công nhân toàn Nhà máy.
Tháng 10/1937, tại một địa điểm ven đê gần chùa Ái Mộ (Gia Lâm), Chi bộ Đảng đầu tiên của Nhà máy XLGL đã được thành lập do đồng chí Lương Khánh Thiện - Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ kiêm Bí thư Thành Ủy Hà Nội - công bố quyết định. Có 03 đảng viên đầu tiên được kết nạp là đồng chí Lư, đồng chí Lương Nhân - Công nhân Nhà máy XLGL và đồng chí Thuật - công nhân Nhà máy Khuy). Đến tháng 8/1938 số đảng viên lên tới 10 người.
Từ khi có chi bộ Đảng, phong trào đấu tranh của công nhân trong Nhà máy được tổ chức chặt chẽ, có định hướng cụ thể phù hợp tình hình thực tế. Ngày 01/5/1938 trên 300 công nhân NMXLGL tham gia mít tinh ở khu Đấu Xảo Hà Nội đòi giải quyết nạn thất nghiệp, đòi tự do lập nghiệp đoàn; đòi tự do dân chủ, giảm sưu thế, giải quyết nạn đắt đỏ…Sau đó tại Nhà máy XLGL đã nổ ra những quộc đấu tranh của anh chị em công nhân với bọn chủ tư bản để chống áp ức bóc lột .
Cuộc bãi công đầu tiên do chi bộ Cộng sản của Nhà máy tổ chức ngày 19/10/1938. Đồng chí Lương Nhân - đảng viên - đã cùng anh Tình , anh Nghĩa thay mặt anh chị em đưa yêu sách cho bọn chủ. Trước sức mạnh của công nhân, bọn chủ đã phải chấp nhận tăng lương từ 25 -30%, giảm giờ làm xuống 8 giờ một ngày và không đánh đập thợ (về sau, tại Hội nghị CNVC Nhà máy năm 1981 đã nhất trí biểu quyết thông qua ngày 19/10 được lấy làm ngày truyền thống của Nhà máy).
Cuối năm 1938 Mặt trận Bình dân Pháp đổ, thực dân Pháp bắt đầu khủng bố những người Cách mạng. Công nhân Nhà máy lại có cuộc đình công để đấu tranh. Nhưng do ban lãnh đạo chưa có sự nhất trí, đồng thời có kẻ phản bội nên cuộc đấu tranh không thành công. Đồng chí Nhân và đồng chí Khảm bị bắt.
Ngày 10/6/1939, 800 Công nhân Nhà máy bãi công đòi thực hiện 7 yêu sách, tăng lương, thợ học việc được hưởng lương, nghỉ lễ được hưởng lương, có nước uống cho công nhân, làm nhà cho kíp thợ toa xe… cuộc bãi công kéo dài 5 ngày và đã thắng lợi" (trích lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội - trang 74)
Trước tình hình phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng mạnh, thực dân Pháp ra lệnh giải tán các tổ chức ái hữu, chăng thêm lưới mật thám, chỉ điểm trong thành phố. Chúng đặt thêm 14 bốt cảnh sát, trong đó có bốt cảnh sát cạnh Nhà máy XLGL.
Mặc dù vậy, tổ chức công nhân Cứu quốc vẫn có cơ sở trong Nhà máy XLGL và một số nhà máy khác như Avia, STAL, Nhà in…
Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tháng 9/1940, phát xít Nhật kéo vào Hà Nội hất cẳng Pháp và chiếm giữ Nhà máy XLGL. Công nhân bị giặc Nhật đánh đập một cách dã man bất cứ lúc nào, cùng lúc phải chịu hai tầng áp bức của bọn chủ Nhà máy là tư bản thực dân Pháp và bọn lính phát xít Nhật.
Từ năm 1941 Nhà máy XLGL bắt đầu chế tạo bom đạn, vũ khí.
Năm 1943, để tránh bị oanh tạc, bọn chủ đã di chuyển một số máy móc cùng với hầu hết thợ lành nghề lên Đông Anh, lập một bộ phận Nhà máy tại đó. Bọn giặc Nhật chiếm giữ Nhà máy, ra lệnh cấm chế tạo vũ khí nên một số công nhân bị thất nghiệp.
Tháng 3/1943, công nhân Nhà máy XLGL và STAL đấu tranh đòi tăng lương, đòi phụ cấp sinh hoạt đắt đỏ. Thời kỳ này một số cán bộ đảng viên có năng lực của cấp trên được chọn lựa, phải vào hoạt động tại một số xí nghiệp , nhà máy trong đó có Nhà máy XLGL. Chỉ sau một thời gian nhắn, tổ chức công nhân Cứu quốc đã phát triển rộng khắp các xí nghiệp quan trọng. Truyền đơn của việt Minh, báo Cứu quốc, báo Cờ giải phóng được lưu hành rộng rãi rong công nhân. Các cuộc quyên góp ủng hộ quỹ mua sắm vũ khí, thuốc men được đông đảo công nhân hưởng ứng. Một số cai, ký cũng tìm đến với tổ chức Cách mạng.
Ngày 13/8/1945 hưởng ứng cao trào cách mạng tháng 8, tự vệ của Nhà máy đã phối hợp với 32 tự vệ ở các thôn lân cận, tiến về chiếm huyện lỵ Đông Anh. Tuy vũ khí rất thô sơ nhưng tự vệ Nhà máy đã chiến đấu rất dũng cảm, tiêu diệt một tiểu đội lính Nhật.
Ngày 23/8/1945 nhân dân huyện Gia Lâm trong đó có công nhân Nhà máy XLGL đã nổi dậy đánh đuổi bọn Nhật. Bọn chúng phải rút chạy và toàn bộ Nhà máy đã thuộc về tay công nhân. Ban quản trị lâm thời của Nhà máy được thành lập.
III- Phục vụ kháng chiến.
Thời kỳ 1946-1947:
Sau khi thành lập Ban quản trị lâm thời, tiểu ban quân sự của Nhà máy được thành lập tiếp theo. Có 2 tiểu đội tự vệ. Ngoài một số vũ khí lấy được của địch, anh em còn tự chế, tự trang bị giáo mác, dao găm. Lực lượng tự vệ đã nhiều lần phải đối phó với quân Tưởng mượn danh nghĩa quân Đồng minh vào tước vũ khí quân Nhật và bọn Quốc dân đảng, dựa vào quân Tưởng, thực hiện âm mưu khiêu khích, phá hoại nhà máy.
Trong khí thế Cách mạng bừng bừng, Nhà máy không những đập tan được mưu đồ phá hoại của địch mà còn ra sức giữ vững sản xuất phục vụ Cách mạng: Toàn nhà máy hăng hái hưởng ứng Tuần lễ vàng, làm thêm giờ, sản xuất vũ khí cho bộ đội Nam tiến, bốc dỡ hàng trên toa tàu lấy tiền ủng hộ anh chị em Nhà máy dệt Nam Định.
Một bộ phận của Nhà máy được di chuyển lên Cổ Loa lập xưởng sản xuất vũ khí do đồng chí Ngô Gia Khảm làm xưởng trưởng. (về sau xưởng này được chuyển lên chiến khu Việt Bắc chuyên sản xuất vũ khí phục vụ bộ đội ta đánh giặc Pháp). Nhà máy sản xuất vũ khí TK1 đặt tại xã Hồng Lạc, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Đội tự vệ của Nhà máy được trang bị thêm vũ khí, thành lập đội cảm tử quân. Tháng 11/1946 giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta. Theo chỉ thị của Đảng, hầu hết máy móc, dụng cụ và nguyên vật liệu của Nhà máy XLGL của xưởng sửa chữa ở Đông Anh và xưởng vũ khí đều được chuyển lên chiến khu.
Ngày 19/12/1946 tiến súng kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu nổ ở Hà Nội rồi lan ra toàn quốc.
Trước khi rút lên chiến khu, công nhân Nhà máy XLGL đã dùng mìn phá sập các phân xưởng. Một số công nhân đã sát cánh cùng bộ đội vệ quốc đoàn chiến đấu bảo vệ Thủ đô suốt 60 ngày đêm khói lửa.
Tự vệ Nhà máy còn bám trụ quyết giữ Nhà máy cho đến ngày 16/2/1947. Trước khi rút đi các chiến sỹ đã viết lên tường: "Hỡi bọn xâm lược! chúng ta sẽ trở lại đây!"
Thời kỳ 1948- 1954:
Theo sự chỉ đạo của Công đoàn Hỏa xa Việt Nam do đồng chí Trần Danh Tuyên (bí danh Lê Hồng Tâm) phụ trách, một bộ phận Nhà máy XLGL đã di chuyển hàng vạn tấn máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu cùng cán bộ công nhân lên chiến khu Việt Bắc xây dựng Nhà máy chế tạo vũ khí phục vụ cuộc kháng chiến chóng thực dân Pháp.
Ngày 18/3/1947 việc di chuyển đã tới đích là xã Hồng Lạc, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Ngày 25/3/1947 Nhà máy sản xuất vũ khí TK1 đã tập trung sức chế tạo lựu đạn, súng Badoca (Bazoka) và súng tiểu liên kịp thời cung cấp cho bộ đội ta đánh giặc.
Từ cuối năm 1948 đến đầu năm 1950, theo yêu cầu của mặt trận, Nhà máy TK1 đã sản xuất, chế tạo hàng trăm khẩu súng cối và hàng vạn viên đạn, lựu đạn, mìn cung cấp kịp thời cho bộ đội.
Từ năm 1951 đến năm 1954 Nhà máy TK1 chuyển sang sản xuất các phương tiện vượt sông và sửa chữa ô tô. Hàng trăm chiếc cầu , phà, thuyền gắn máy do Nhà máy TK1 sản xuất đã góp phần tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lãy năm châu, chấn động địa cầu".
Tại Gia Lâm, năm 1949 giặc Pháp tiến hành phục hồi Nhà máy để sửa chữa đầu máy, toa xe phục vụ cho mưu đồ chiến tranh xâm lược của chúng. Lúc đầu chỉ có vài ba cỗ máy với 72 công nhân làm việc.
Đi đối với chính sách mị dân bằng tiền lương, chúng bố trí một mạng lưới mật thám, cảnh binh hàng trăm tên luôn bám sát, kiểm soát mọi hành động của công nhân.
Mặc dù vậy, anh chị em công nhân vẫn tìm mọi cách hoạt động cách mạng: nắm tình hình địch cung cấp tin tức cho đường dây bí mật của ta; đưa giấu cán bộ; quyên góp tiền ủng hộ kháng chiến.
Một số đồng chí được cử vào hoạt động tại Nhà máy đã lãnh đạo công nhân đấu tranh với bọn chủ và bí mật chế tạo vũ khí, dụng cụ chuyển ra ngoài cho quân ta.
Tháng 3/1954 công nhân Nhà máy XLGL đã góp sức cùng bộ đội chủ lực đánh vào sân bay Gia Lâm, phá hủy 18 máy bay, thiêu hủy một số kho xăng dầu, diệt nhiều tên địch.
Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Địch có âm mưu di chuyển máy móc, vật liệu của Nhà máy vào Nam. Anh chị em công nhân đã đấu tranh cương quyết giữ gìn, bảo vệ cất giấu những máy móc quý, đào hố chôn giấu các tài liệu kỹ thuật quan trọng.
Ngày 17/9/1954, công nhân Nhà máy XLGL đã đưa đơn lên Ủy ban Quốc tế giám sát đình chiến ở Việt Nam đòi quân địch không được chở than, chở máy móc đi khỏi Nhà máy XLGL, đòi trả lại tất cả những máy móc mà chúng đã và đang chở đi Hải Phòng.
Trong các ngày 19, 20, 21 và 22 tháng 9 năm 1954, công nhân Nhà máy đấu tranh, không bốc xếp hàng lên toa xe đòi dỡ những máy móc, dụng cụ, vật liệu. Công nhân lại thuyết phục các tư nhân để họ tẩy chay, không mua vật liệu, máy móc của Nhà máy mà bọn chủ gọi là bán.
Ngày 10/10/1954 Hà Nội được giải phóng, Nhà máy lại trở về tay công nhân làm chủ.
Chiều ngày 10/10/1954 một đoàn cán bộ do đồng chí Trần Văn Khang làm trưởng đoàn vào tiếp quản Nhà máy cùng với 430 công nhân bắt tay vào khôi phục sản xuất.
IV- Bám trụ vị trí trọng điểm, phục vụ xây dựng miền Bắc, chi viện Miền Nam.
Thời kỳ 1955-1965.
Ngày 19/5/1955, Bác Hồ về thăm Nhà máy. Bác đến tận các phân xưởng thăm, động viên anh chị em công nhân trong không khí vô cùng phấn khởi và xúc động. Bác dặn: "Muốn thi đua cho có kết quả tốt thì phải đoàn kết, phổ biến kinh nghiệm cho nhau, bền gan và cố gắng học tập" …"Phải đoàn kết giữa cán bộ công nhân cũ và mới, phải nêu cao tinh thần làm chủ, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ". Trước lúc ra về, Bác còn dặn thêm: "Nước ta còn nghèo. Các cô chú phải tích cực làm việc với tinh thần tự lực cánh sinh để xây dựng đất nước và tích cực đấu tranh để thống nhất nước nhà…"
Vâng lời Bác, anh chị em CBCNV toàn Nhà máy đã đoàn kết một lòng hăng hái thi đua lao động sản xuất, khắc phục khó khăn, sửa chữa nhanh nhiều đầu máy, toa xe để đáp ứng yêu cầu vận tải đường sắt , phục vụ xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Thời kỳ này, Anh hùng Lao động Ngô Gia Khảm làm Giám đốc, đồng thời là tấm gương sáng cho anh chị em CBCNV toàn Nhà máy.
Tinh thần tự lực, tự cường được đề cao, đặc biệt là tình cảm luôn luôn hướng về đòng bào miền Nam ruột thịt đang chống lại sự áp bức, kìm kẹp của Mỹ - Diệm và bè lũ tay sai.
Sôi sục căm thù khi được tin Mỹ ngụy thảm sát đồng bào ta ở trại giam Phú Lợi, Nhà máy phát động đợt thi đua với mục tiêu: "Quyết tâm hoàn thành khôi phục đầu máy 309 trước ngày 01/5/1959 để trả thù cho đồng bào Phú Lợi và kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động".
Sau 120 ngày đêm tìm kiếm, thu nhặt phụ tùng và sửa chữa, lắp ráp , chiếc đầu máy 309 được khôi phục đầu tiên mang tên ĐẦU MÁY PHÚ LỢI
Từ kết quả bước đầu của việc khôi phục đầu máy đã mở ra khả năng và triển vọng mới cho Nhà máy về các vấn đề kỹ thuật và đẩy nhanh phong trào thi đua.
Đỉnh cao của phong trào thi đua trong Nhà máy là phong trào thi đua "Ngày thứ 7 đẩy mạnh sản xuất, đấu tranh thống nhất nước nhà" được phát động ngày 13/4/1962, trở thành ngày hội thi đua của quần chúng. Từ Nhà máy, phong trào đã lan rộng trên toàn miền Bắc và có tiếng vang đến tận đồng bào miền Nam trên tiền tuyến lớn.
Ngày 25/10/1962 đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam do giáo sư Nguyễn Văn Hiếu và nhà thơ Thanh hải dẫn đầu ra thăm miền Bắc đã đến thăm Nhà máy trong không khí đầm ấm tình Bắc Nam ruột thịt.
Đến năm 1964, phong trào "Ngày thứ 7…" đã đạt tới đỉnh cao mới: Từ việc khôi phục đầu máy cũ, Nhà máy bắt tay vào việc đóng mới loạt đầu máy kiểu "Tự lực", chiếc đầu máy đầu tiên mang tên Anh hùng Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi.
Năm 1965, đầu máy Tự lực II đã ra đời. Giữa lúc đầu máy Tự lực III đang đóng thì xảy ra cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đánh phá miền Bắc. thời kỳ này, Nhà máy có 1000 công nhân, diện tích mặt bằng phát triển thêm 10 ha.
Trước tình hình mới, Nhà máy chuyển hướng sản xuất từ thời bình sang thời chiến: tiếp tục sửa chữa các loại đầu máy, toa xe và chế tạo loại toa goòng trọng tải 10 tấn, cải tạo ô tô bánh hơi thành ô tô bánh thép kéo goòng10 tấn chạy trên đường sắt đoạn Hà Tĩnh - Quảng Bình để vận chuyển phục vụ tiền tuyến miền Nam.
Thời kỳ 1966 - 1975
Ngày 13 và 14/12/1966, máy bay Mỹ ném bom hàng trăm quả bom phá hoại Nhà máy. Cán bộ công nhân vẫn quyết tâm bám vị trí, thực hiện chủ trương phân tán, sơ tán bảo toàn lực lượng đồng thời giữ vững sản xuất. Các dây chuyền lao động của Nhà máy vẫn hoạt động liên tục, không hề bị gián đoạn.
Các năm 1965, 1966, 1967, 1968, Nhà máy trải qua 6 lần bị đánh phá ác liệt. Hầu hết nhà xưởng bị hủy hoại nhưng công nhân của Nhà máy vẫn luôn gắn bó với máy móc và công việc được giao, cho dù có sự hy sinh, tổn thất. Trong 4 năm chống chiến tranh phá hoại, Nhà máy XLGL đã sửa chữa được 100 đầu máy, 600 toa xe các loại; chế tọa 100 chiếc toa goòng 10 tấn, cải tạo 200 ô tô ray, 115 chiếc phao cầu góp phần đảm bảo GTVT chống Mỹ cứu nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, lực lượng tự vệ chiến đấu của Nhà máy từ 1 đại đội đã phát triển thành 3 đại đội, trong đó có những trung độ chiến đấu liên tục lập công, 3 năm liền được công nhận danh hiệu "Đơn vị Quyết thắng", đã góp phần cùng quân dân Thủ đô bắn rơi, bắn cháy nhiều máy bay địch.
Tháng 12/1968, địch hạn chế ném bom và đến tháng 10/1968 chúng buộc phải ngừng ném bom trên toàn miền Bắc. Tranh thủ thời gian, CBCNV toàn Nhà máy tập trung đưa máy móc từ nơi sơ tán về, tạm khôi phục lại nhà xưởng và bắt tay ngay vào sản xuất.
Năm 1970 Nhà máy mở chiến dịch "Sửa chữa đầu máy, toa xe làm theo lời Bác", phát huy truyền thống thi đua "Ngày thứ 7…", giành chỉ tiêu định mức về sửa chữa đầu máy, toa xe bằng năm 1964 và bắt đầu thực hiện lương khóan. Năm 1972 máy bay Mỹ trở lại đánh phá miền Bắc, Nhà máy lại chuyển hướng sản xuất, phân tán máy móc, do vậy khi địch đánh phá Nhà máy (ngày 11/10/1972), đã hạn chế được tổn thất và tiếp tục sản xuất.
Trong 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" của Hà Nội (từ ngày 18/12 đến 30/12/1972), cùng với một số địa điểm khác của thành phố, Nhà máy XLGL bị địch đánh phá lần thứ 7 ác liệu tới mức độ hủy diệt. Toàn bộ các công trình nhà xưởng đã khôi phục được trong các năm 1969-1970 đều bị phá hủy toàn bộ. Nhà máy phải hứng chịu 499 quả bom phá và 02 quả bom bi mẹ, 54 đồng chí hi sinh, 124 đồng chí bị thương. Mặc dù vậy, Nhà máy vẫn hoàn thành vượt mức nhiệm vụ năm 1972 với giá trị tổng sản lượng đạt 106,7% kế hoạch với sản phẩm chủ yếu: 19/18 đầu máy, 384/350 toa xe các loại, 115 cọc cầu….
Năm 1973, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh và rút quân về nước.
Năm 1974, thực hiện Nghị quyết 22 của Trung ương Đảng, Nhà máy đi dần vào nền nếp quản lý mới,thực hiện lương khoán, lương sản phẩm.
Nhà xưởng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nhà ở cho công nhân và các công trình phúc lợi tập thể được xây dựng, mở rộng. Kế hoạch năm 1974 đã được hoàn thành vượt mức 101% trước thời hạn 03 ngày.
Năm 1975 trong niềm vui lớn của cả nước, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Nhà máy XLGL đã mừng đại thắng bằng hành động cụ thể là hoàn thành 100% kế hoạch cả năm.
 
V- Phát huy truyền thống, tiếp tục phát triển
Thời kỳ 1976 - 1988:
Lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, trong năm 1976, Nhà máy đã đại tu 6 toa xe đẹp nhất góp vào đoàn tàu Thống nhất; đại tu đầu máy "Phú Lợi". Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Nhà máy đảm nhận và đã thực hiện thành công việc đại tu đầu máy 158 với chu kỳ nhắn nhất. Nhà máy cũng chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV bằng công trình "Đoàn tàu Thiếu niên tiền phong" do Trung ương Đoàn đặt hàng bằng tiền bán giấy vụn của thiếu nhi cả nước thu nhặt. Đoàn tàu gồm đầu máy hơi nước số 215 do Đoàn TNCS HCM Nhà máy đảm nhận khôi phục cộng với 10 toa xe khách do Nhà máy Xe lửa Dĩ An đóng mới, trong đó có 5 toa xe giường nằm.
Năm 1979 xảy ra chiến tranh biên giới phía Bắc, tự vệ Nhà máy đã xung phong gia nhập tiểu đoàn Phù Đổng của huyện Gia Lâm, lên biên giới chiến đấu.
Thời kỳ này Nhà máy gặp khó khăn vì phụ tùng, vật tư nhập ngoại cạn dần, kỹ sư, công nhân Nhà máy đã mạnh dạn chế tạo phụ tùng như:đúc sơ mi, chế tạo piston, biên, các phụ tùng hãm… Do vậy, Nhà máy vẫm đảm bảo được nhu cầu của Ngành, đồng thời vẫn đảm bảo công tác xã hội và chăm lo đời sống cho 2200 CBCNV và hơn 3000 con em của các gia đình CNVC.
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần V (tháng 3/1982), được sự quan tâm của cấp trên, Nhà máy vẫn tiếp tục phát triển sản xuất đi đôi với việc mở trường công nhân kỹ thuật đào tạo 500 công nhân trẻ, củng cố nền nếp quản lý từ các phòng, ban đến các phân xưởng.
Năm 1984, Nhà máy hoàn thành vượt mức kế hoạch, được Bộ Giao thông Vận tải tặng cờ "Đơn vị thi đua xuất sắc". Các phong trào của công nhân, thanh niên, phụ nữ, văn nghệ, thể dục thể thao, làm sạch đẹp nhà xưởng, trồng cây xanh ven hồ…. được duy trì và phát triển liên tục.
Trong các năm từ 1985 đến hết năm 1987, tuy tình hình Nhà máy có nhiều xáo trộn về tổ chức và cán bộ nhưng CBCNV vẫn phát huy truyền thống, giữ được mức trung bình so với các đơn vị trong ngành.
Năm 1988, Nhà máy đi vào ổn định theo nền nếp quản lý mới, thực hiện cơ chế khoán đến người lao động, trả lương theo công đoạn và quy chế khai thác tiềm năng.
Sau khi hoàn thành việc xây dựng Nhà máy với quy mô mở rộng do nước bạn Ba Lan giúp đỡ, từ năm 1988, Nhà máy bắt đầu đóng toa xe khách theo tiêu chuẩn quốc tế. Loạt đầu tiên là 30 toa xe chở khách theo công nghệ của Ba Lan chuyển giao. Loại toa xe này thường được gọi là "Toa xe Việt Ba" đã mở ra một chặng đường mới cho Nhà máy về cải tiến công nghệ.
 
Thời kỳ 1989 - 1993:
Từ năm 1989, thực hiện tinh thần Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nhà máy chuyển sang sản xuất theo cơ chế thị trường, xóa bỏ hẳn bao cấp, thực hiện hạch toán độc lập, tự trang trải, không chỉ sửa chữa đầu máy toa xe. Nhà máy còn đa dạng hóa sản phẩm: nhận gia công kết cấu thép cho cột điện cao thế đường dây 500Kv; sản xuất, sửa chữa nhiều mặt hàng cơ khí theo đơn đặt hàng củ các đơn vị bạn như giá chuyển toa xe cho đường sắt vùng mỏ, nồi hơi… và nhiều mặt hàng khác phục vụ nhu cầu sử dụng của xã hội. Nhờ vậy, 100% công nhân Nhà máy có việc làm, đời sống và thu nhập ổn định.
Trong thời kỳ 1990 -1993, các hoạt động trong Nhà máy diễn ra với nhịp độ phát triển tốt. Doanh thu tăng nhanh: từ 2 tỷ (1990) lên 10 tỷ (1991), lên 13 tỷ (1992) rồi 15 tỷ (1993). Mức thu nhập bình quân của CBCNV cũng tăng theo: từ 59.309 đ (năm 1990), lên 108.862 đ(1991), lên 189.000đ (1992) rồi 220.000đ (1993). Doanh thu khai thác tiềm năng chiếm 30% tổng doanh thu của Nhà máy.
 
Thời kỳ 1993 - 1995
Từ năm 1993 trở đi, chấm dứt hẳn việc sửa chữa đầu máy hơi nước, Nhà máy bước sang chặng đường mới về sức kéo của ngành đường sắt: sức kéo Dieden.
Nhà máy đầu tư hàng chục tỷ đồng mua sắm mới hàng trăm máy móc thiết bị hiện đại bổ sung cho dây chuyền sản xuất để nâng cao năng lực và công suất. Bộ máy quản lý của Nhà máy được đào tạo, sắp xếp phù hợp với yêu cầu của mặt hàng mới. Từ 25 đầu mối phân xưởng, phòng ban với hơn 200 lao động gián tiếp (năm 1991) đến cuối năm 1993 giảm xuống chỉ còn 8 phân xưởng, 5 phòng với tổng số 72 người. Từ đó Nhà máy đảm nhận sửa chữa lớn hàng trăm đầu máy Dieden, đầu máy TY7, đầu máy Rumanim chỉnh bị đầu máy Bỉ; khôi phục đầu máy TTM4K chạy đường khổ rộng 1435m tiêu chuẩn quốc tế cho Nhà máy điện Phả Lại. Chất lượng đầu máy Dieden do Nhà máy sửa chữa ngày càng được nâng cao, phục vụ vận tải an toàn.
Nhà máy còn sản xuất mặt hàng nồi hơi không những phục vụ công nghiệp và dân sinh trong nước mà còn xuất khẩu sang CHDCND Lào.
Do vậy đến năm 1995, Nhà máy đã tạo được bước ngoặt lớn: đại tu 18 đầu máy TY7; đóng mới 13 toa xe khách;
Đại tu 47 toa xe khách, 194 toa xe hàng với sản lượng tăng gấp 10 lần nawm1989, doanh thu đạt 31 tỷ đồng, bình quân thu nhập của CBCNV đạt 760.000 đ/người/tháng, đời sống ổn định.
VI- Chặng đường đổi mới, phát triển toàn diện.
-Thời kỳ 1996-2005: 
Năm 1996 mở đầu một thời kỳ Nhà máy phát triển toàn diện: cảnh quan môi trường được sửa sang sạch đẹp; máy móc trang thiết bị được đầu tư đổi mới tiên tiến; các phòng ban nghiệp vụ được trang bị hiện đại; các khu thể thao được hình thành… Nhà máy tập trung sức đóng mới các loại sản phẩm: toa xe H, toa xe G, toa xe M… Nhờ vậy doanh thu đạt trên 40 tỷ, thu nhập bình quân đạt 950.000 đồng/ người/ tháng.
Năm 1997 tuy có khó khăn vì các mặt hàng truyền thống giảm nhưng với tinh thần quyết tâm khắc phục khó khăn, ra sức lao động, sáng tạo, Nhà máy vẫn khai thác nguồn việc ngoài chiếm 1/3 doanh thu cả năm, đạt mức thu nhập bình quân 1.064.000 đ/người/tháng. Cuối năm này, Nhà máy được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng B.
Tiếp tục đà thắng lợi đó, CBCNV Nhà máy chung lòng, chung sức, phát huy lao động sáng tạo, ra sức thi đua và đạt những tiến bộ toàn diện. Sau khi đường sắt thống nhất, Nhà máy đã sửa chữa, đóng mới nhiều đầu máy, toa xe để ngành Đường sắt tổ chức các chuyến tàu khách Bắc - Nam chất lượng cao phục vụ nhân dân cả nước, được lãnh đạo Ngành và hành khách khen ngợi.
Là đơn vị đầu tiên trong khối công nghiệp ngành Đường sắt Việt Nam thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 : 2000 từ ngày 01/11/2002 (nay là hệ thống ISO 9001 : 2008).
Ngay từ năm 2000- kết thúc thế kỷ XX, Nhà máy đã chế tạo thành công các toa xe chở khách cho đoàn tàu tốc hành Thế hệ 2 (ký hiệu S1/2) hơn hẳn các toa xe thế hệ 1 cả về kiểu dáng, tiện nghi hiện đại và công nghệ mới đồng bộ. Đặc biệt, nhiều chi tiết của loại toa xe này được nội địa hóa.
Bước sang thế kỷ XXI, ngay từ năm 2001, lần đầu tiên Nhà máy chế tạo thành công toa xe khách cấp cao 2 tầng, có 108 chỗ ngồi với chất lượng cao, phục vụ các đoàn tàu du lịch quanh Thủ đô và vận tải hành khách trên tuyến Hà Nội - Hải phòng, Hà Nội - Vinh. Đây là công trình tiêu biểu cho sức sáng tạo của Nhà máy XLGL nói riêng và toàn ngành Đường sắt nói chung.
Năm 2002 Nhà máy đóng mới toa xe khách thế hệ 2: E1/2 hành trình 30 giờ với chất lượng đạt giải nhất trong hội thi toàn Ngành. Cũng năm 2002 Nhà máy đã chế tạo thành công hai loại giá chuyển hướng lò xo không khí - hãm đĩa, không có xà nhúng và có xà nhún, tạo tiền đề cho sự hình thành các đoàn xe khách cao cấp sau này.
Theo Quyết định 734/2003/QĐ- GTVT của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, ngày 20/3/2003, Nhà máy Xe lửa Gia Lâm được đổi tên thành Công ty Xe lửa Gia Lâm - Doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập.
Năm 2003, Công ty tham gia đóng mới đoàn tàu kéo đẩy DMU đầu tiên của ngành Đường sắt Việt Nam. Đặc biệt đã chế tạo lắp ráp thành công 2 đầu máy Dieden của đoàn tàu DMU. Tuy công suất đầu máy chỉ có 800 mã lực nhưng các đặc tính thiết kế và kỹ thuật tương đương với các loại đầu máy Dieden truyền động điện tiên tiến nhất đang sử dụng trong ngành Đường sắt Việt Nam. Tiếp đến năm 2004, Công ty đã đóng mới gần 100 toa xe hàng và đóng mới 19 toa xe khách cao cấp cho đoàn tàu cao cấp nhất của Đường sắt Việt Nam- tàu SE1/2. Trên toa xe được trang bị Microphor. Đại thu thành công đầu máy tiếp D12E-621.
Danh mục sản phẩm của công ty ngày càng được nối dài với các loại phương tiện vận tải đường sắt chuyên dùng như: toa xe P, toa xe chở container, toa xe hàng có mui, toa xe hàng ăn, toa xe công vụ phát điện, toa xe khách liên vận quốc tế, toa xe A giường mềm, toa xe B giường cứng, toa xe A ngồi, ghế mềm toa xe, cửa sổ kính 2 lớp cho toa xe, nồi hơi, lồ xo và sản phẩm đúc các loại.
Đi đôi với lao động sáng tạo trong sản xuất, Công ty luôn chú trọng tạo bước tiến đồng bộ: đầu tư hàng chục tỷ đồng, đổi mới thiết bị công nghệ, cử các đoàn kỹ sư, công nhân ra nước ngoài (Đức, Bỉ, Trung Quốc…) học tập, thực tập, thực hiện hàng chục đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Ngành; cải tiến quản lý; chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương chính sách , xây dựng nội bộ trong sạch vững mạnh; duy trì nền nếp công tác Đảng, đầy mạnh hoạt động của các đoàn thể, các mặt công tác xã hội, từ thiện…. và đảm bảo nếp sống văn minh, trật tự an toàn….
Định hướng đến 2020
Căn cứ định hướng quy hoạch phát triển của ngành Đường sắt đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định 06/2002/QĐ-TTg ngày 07/1/2002) và chương trình thực hiện của ngành Đường sắt Việt Nam, định hướng mục tiêu của Công ty Xe lửa Gia Lâm đến năm 2020 "Đổi mới an toàn và phát triển bền vững".  Quy hoạch Công ty theo hướng sản xuất tập trung hóa cao, thiết bị hiện đại, tạo bước chuyển biến về kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm đại tu, đóng mới toa xe, lắp ráp đầu máy, tiến tới xuất khẩu toa xe.  Phấn đấu tăng tỷ lệ tự sản xuất các phụ tùng thay thế, giảm thiểu mua ngoài và nhập ngoại, phấn đấu tăng sản lượng hàng năm.
VIII- Mục tiêu phía trước
Phát huy truyền thống Đơn vị hai lần Anh hùng: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ và Đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, công ty XLGL quyết tâm giữ vững nhịp độ phát triển sản xuất kinh doanh, hoàn thành tốt nhiệm vụ kế hoạch được giao cũng như các công việc khác với mục tiêu: Đổi mới công nghệ, an toàn và tăng trưởng; khai thác tiềm năng, đảm bảo đủ việc làm, tăng sản lượng, doanh thu cho Công ty, tăng thu nập cho CBCNV. Công ty tăng cường áp dụng công nghệ cao để tạo những bước đột phá về kỹ thuật công nghệ đưa vào các sản phẩm đóng mới, đặc biệt là quyết tâm xây dựng thành công dây chuyền chế tạo, lắp ráp đầu máy Dieden truyền động điện công suất lớn của vận tải đường sắt; thực hiện các biện pháp tích cức để đảm bảo tính công nghiệp, tính thống nhất và lắp lẫn đối với tất cả các chi tiết và sản phẩm xuất xưởng. Công ty tiếp tục đào tạo nâng cao tình độ CBCNV, ngiên cứu sản xuất các mặt hàng mới, trước mắt xây dựng phương án vừa lắp ráp đầu máy "Đổi mới" vừa ngiên cứ chế tạo chi tiết tăng nội địa hóa.

(Nguồn:  100 năm lịch sử Xe lửa Gia Lâm)

 Đặng Thị Mai Hương